15 TIÊU CHÍ CHỌN CỔ PHIẾU CỦA PHILIP A. FISHER (PHẦN 1)

Philip Arthur Fisher (8/9/1907 – 11/03/2004) là nhà đầu tư chứng khoán Mỹ nổi tiếng với trường phái đầu tư tăng trưởng. Philip Fisher đạt được thành tích xuất sắc trong 70 năm đầu tư của mình. Ông đầu tư vào công ty được quản lý tốt, tăng trưởng, chất lượng cao và giữ dài hạn. Ví dụ, ông đã mua cổ phiếu của Motorola vào năm 1955 và tiếp tục giữ nó cho đến khi ông qua đời vào năm 2004. Một trong số những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là tác phẩm “Cổ phiếu thường Lợi nhuận phi thường”, cuốn sách gây nên tiếng vang lớn trong lĩnh vực đầu tư chứng khoán và có sự ảnh hưởng đến những nhà đầu tư nổi tiếng trên thế giới như Warrent Buffett,…

15 tiêu chí chọn cổ phiếu của Philip A. Fisher: 

Tiêu chí 1. “Liệu công ty có những sản phẩm và dịch vụ có đủ tiềm năng thị trường đủ lớn để tăng doanh thu ít nhất trong vài năm tới không?”

Phillip Fisher chia các công ty may mắn thành hai phe là “may mắn và có năng lực” và “may mắn nhờ họ có năng lực”. Các ví dụ hiện tại có thể kể đến là Amazon và Ebay, cả hai được hưởng lợi rất nhiều từ cuộc cách mạng Internet. Khi Internet phát triển, nó như là một cơ hội lớn cho các công ty này. Một số thành công của các công ty này chắc chắn là do họ đã có sự chuẩn bị và năng lực có sẵn, nhưng mọi thứ chỉ được bứt phá khi việc mua sắm online được phổ biến rộng.

Nhóm thứ hai là những công ty đã tạo ra chính sự may mắn riêng của họ bằng việc giới thiệu các sản phẩm mới hoặc thay đổi về chiến lược của công ty.

Tiêu chí 2. “Bộ máy quản lý của công ty có quyết tâm tiếp tục phát triển các dòng sản phẩm hay những quy trình sản xuất, nhằm gia tăng hơn nữa tổng doanh thu trong khi tiềm năng tăng trưởng của các dòng sản phẩm hấp dẫn hiện tại đã bị khai thác quá nhiều?”

Tiêu chí 2 này dường như hơi lặp lại tiêu chí, nhưng thực tế lại khác. Tiêu chí 1 đánh giá một phần tiềm năng tăng trưởng thật sự của doanh thu nhờ vào sản phẩm của một công ty. Còn tiêu chí 2 đề cập đến thái độ quản lý. Ví dụ dụ cụ thể từ Apple: Steve Jobs có thể đã dừng lại với iPod và từ lâu đã được nhớ đến nhờ việc cách mạng hóa cách mà chúng ta nghe nhạc. Các nhà đầu tư ban đầu sẽ kiếm được lợi nhuận chỉ nhờ thành công của iPod. Nhưng điều thực sự làm cho Apple trở thành một cổ phiếu hiệu mạnh nhất trong thập kỷ qua là nỗ lực của Steve Jobs đến từ iPhone và iPad, những sản phẩm mang tính cách mạng kế sau iPod.

Tiêu chí 3. “Những nỗ lực nghiên cứu và phát triển của công ty sẽ ảnh hưởng như thế nào đến quy mô của nó?”

Chúng ta có thể lấy số liệu các khoản đầu tư hàng năm của công ty dành cho việc nghiên cứu phát triển từ các báo cáo tổng doanh thu bán hàng hàng năm và so sánh với mức trung bình trong ngành. Từ đó đưa ra  kết luận về tầm quan trọng của nỗ lực nghiên cứu của công ty đối với khả năng cạnh tranh và lượng tiền dành cho nghiên cứu trên mỗi cổ phiếu.

Tiêu chí 4. “Cách thức tổ chức bán hàng của công ty đã hiệu quả chưa?”

Tác giả tin rằng những công ty thành công nhất luôn tìm cách nâng cao khả năng bán hàng của nhân viên. Lợi nhuận một lần có thể được tạo ra trong công ty nhờ những kỹ năng về sản xuất hay nghiên cứu mà không cần đến sự tổ chức phân phối thật sự mạnh mẽ. Tuy nhiên, những công ty như vậy có thể rất dễ bị tổn hại. Để có được sự tăng trưởng bền vững thì công ty cần một đội ngũ bán hàng được đào tạo và tổ chức thật tốt. Còn đối với nhà đầu tư Phân tích chất lượng của cách thức tổ chức bán hàng của một công ty đòi hỏi một cách tiếp cận chất lượng hơn. Nếu bạn có thể, hãy hỏi khách hàng, nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh có lực lượng bán hàng tốt nhất trong ngành. Nếu bạn không có thể thực hiện việc nghiên cứu thông qua 3 cách trên thì cách dễ dàng nhất là tham khảo qua Google, các trang báo mặc dù đôi khi những nguồn tin này có thể là cũ và không mang tính xác thực cao.

Tiêu chí 5. “Biên lợi nhuận của công ty có cao không?”

Đây là một chủ đề được giới tài chính coi như xương sống của các quyết định đầu tư bền vững. Trên quan điểm của nhà đầu tư, doanh thu chỉ có giá trị khi làm tăng lợi nhuận. Một số trường hợp chúng ta có thể tìm thấy cơ hội từ các công ty có biên lợi nhuận cao. Tuy nhiên, có những trường hợp ngoại lệ như các công ty có thể có tỷ suất lợi nhuận thấp, doanh thu cao và tạo ra lợi nhuận tốt trên vốn chủ sở hữu cũng có thể là cơ hội cho đầu tư dài hạn.

Tiêu chí 6. “Công ty đang làm gì để duy trì hoặc cải thiện biên lợi nhuận?”

Thành công của việc đầu tư vào cổ phiếu của một doanh nghiệp nào đó không phụ thuộc vào những thông tin nói chung về doanh nghiệp tại thời điểm mua mà dựa vào những gì sẽ xảy ra sau khi cổ phiếu được mua. Do đó, biên lợi nhuận trong tương lai mới đóng vai trò quan trọng đối với nhà đầu tư. Ngày nay dường như có một mối đe dọa thường trực ảnh hưởng tới biên lợi nhuận. Chi phí tiền lương và tiền công tăng lên theo từng năm.

Những công ty thành công nhất nhờ đi theo hướng “tạo ra những ý tưởng mới có khả năng cắt giảm chi phí và cải thiện biên lợi nhuận” sẽ xây dựng được một tổ chức biết rõ cách tiếp tục thực hiện những phương pháp hữu ích trong tương lai.

Tiêu chí 7. “Mối quan hệ giữa bộ máy lãnh đạo và người lao động trong công ty có tốt không?”

Sự chênh lệch trong khả năng sinh lợi giữa một công ty có mối quan hệ nhân sự tốt đẹp với một công ty có mối quan hệ nhân sự không tốt còn lớn hơn chi phí trực tiếp của các cuộc đình công. Khi công nhân cảm thấy được đãi ngộ tốt, thì bộ máy lãnh đạo sẽ tăng năng suất lao động thuận lợi. Hơn nữa, việc người lao động trung thành sẽ làm giảm một khoản đáng kể chi phí đào tạo công nhân mới. Do đó, những công ty có sự biến động nhân sự bất thường gây ra khoản chi phí không cần thiết mà nhẽ ra đã có thể tránh được nhờ quản lý tốt.

LinkedIn, Glassdoor và các trang web khác cũng có thể cung cấp một số thông tin chất lượng về tinh thần nhân viên giúp nhà đầu tư có thể thực hiện khảo sát về tiêu chí này.

 

(Còn tiếp)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *