[SIC-GAIN #30] NỢ CÔNG – BÀI TOÁN KHÓ VỚI MỌI QUỐC GIA

1. Nợ công là gì?

Nợ công (public debt), còn gọi là nợ chính phủ hoặc nợ quốc gia, là tổng giá trị các khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách. Để dễ hình dung quy mô của nợ chính phủ, người ta thường đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêu phần trăm GDP.

Nợ công thường được phân loại thành nợ trong nước và nợ nước ngoài hoặc phân loại thành nợ ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.

2. Các hình thức vay nợ của chính phủ:

– Chính phủ có thể phát hành trái phiếu chính phủ để vay từ các tổ chức, cá nhân. Trái phiếu chính phủ phát hành bằng nội tệ được coi là không có rủi ro tín dụng vì Chính phủ có thể tăng thuế hoặc in thêm tiền để thanh toán cả gốc lẫn lãi. Trái phiếu chính phủ phát hành bằng ngoại tệ có rủi ro tín dụng cao hơn vì chính phủ có thể không đủ ngoại tệ để thanh toán và còn có rủi ro về tỷ giá.

– Chính phủ cũng có thể vay trực tiếp từ các ngân hàng thương mại, các thể chế siêu quốc gia như Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Hình thức này thường được Chính phủ của các nước có độ tin cậy tín dụng thấp áp dụng vì khi đó khả năng vay nợ bằng hình thức phát hành trái phiếu không cao.

3. Tác động của nợ công:

– Nợ công làm tăng nguồn lực cho Nhà nước, tăng nguồn vốn để phát triển cơ sở hạ tầng và tăng khả năng đầu tư đồng bộ của Nhà nước.

– Tận dụng nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư, sự hỗ trợ từ nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế. Những cơ hội này đem lại nguồn vốn ưu đãi để đầu tư cơ sở hạ tầng, trên cơ sở tôn trọng lợi ích nước bạn và chính sách của Nhà nước.

– Tuy nhiên, nợ công gây áp lực lên chính sách tiền tệ, đặc biệt là từ các khoản tài trợ nước ngoài. Nợ công sẽ kém hiệu quả và tình trạng tham nhũng, lãng phí sẽ tràn lan nếu thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ việc sử dụng và quản lý nợ công.

4. Tình trạng nợ công ở Việt Nam và Mỹ:

Tính đến ngày 31/12/2018, nợ công của Việt Nam ở ngưỡng 3,23 triệu tỷ đồng, bằng 58,4% GDP – mức thấp nhất trong 03 năm qua. Như vậy mỗi người dân Việt Nam đang phải gánh khoảng 32 triệu đồng nợ công.

Trong những năm tới, các khoản vay ODA sẽ giảm dần, dẫn đến thiếu nguồn vốn dài hạn và ưu đãi cho đầu tư. Chính phủ cần huy động các khoản vay mới kém ưu đãi hơn nhiều. Rủi ro lãi suất nợ nước ngoài cũng có xu hướng tăng. Trong bối cảnh thị trường vốn quốc tế sẽ thắt chặt hơn, áp lực trả nợ của Chính phủ đang ngày càng tăng lên, nhất là khi ngân sách nhà nước tiếp tục bội chi.

Tại Mỹ, tháng 02/2019 ghi nhận mức nợ công của nước này lần đầu vượt ngưỡng 22 nghìn tỷ USD và vẫn đang tăng nhanh. Quốc hội Mỹ phải cân nhắc nâng trần nợ trong bối cảnh các biện pháp “đặc biệt” chỉ có thể giúp Mỹ “xoay sở” thêm vài tháng. Nếu không nâng trần nợ, nước này sẽ rơi vào tình trạng “cạn tiền mặt”, không thể trả một số khoản nợ, ảnh hưởng xấu đến xếp hạng tín dụng Mỹ, thị trường chứng khoán thế giới và nền kinh tế toàn cầu.

5. Điều gì xảy ra khi một quốc gia vỡ nợ?

Khi một đất nước không thể trả nợ đúng hạn, nước đó rơi vào trạng thái “vỡ nợ” – tức là phá sản trên quy mô quốc gia. Vỡ nợ trên phạm vi quốc gia khác rất nhiều so với một công ty vỡ nợ bởi các chủ nợ không thể dễ dàng tịch thu tài sản quốc gia như tịch thu tài sản của công ty.

Vỡ nợ gây ra nhiều hậu quả tiêu cực cho các quốc gia. Người tiết kiệm và nhà đầu tư sẽ ồ ạt rút tiền khỏi ngân hàng trong nước và chuyển ra nước ngoài. Để ngăn chặn tình trạng này, chính phủ phải đóng cửa các ngân hàng và áp đặt các biện pháp kiểm soát dòng vốn. Lợi suất trái phiếu sẽ tăng mạnh hoặc thậm chí quốc gia đó bị mất khả năng huy động vốn nước ngoài. Các tổ chức xếp hạng tín dụng cũng cảnh báo về việc đầu tư vào quốc gia này.

Cuộc khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp năm 2009 – 2010 để lại cho nước này những hậu quả nghiêm trọng. S&P, Moody’s và Fitch liên tục hạ xếp hạng tín dụng, khiến việc Chính phủ Hy Lạp vay thêm nợ mới hết sức khó khăn. Để huy động vốn từ trái phiếu chính phủ, Hy Lạp buộc phải tăng lãi suất từ nguồn vay này, có lúc lên tới 11%. Chính phủ Hy Lạp phải áp dụng chính sách tài khóa “thắt lưng buộc bụng”, cắt giảm mạnh chi tiêu và tăng nguồn thu từ thuế, giảm chi tiêu công, sa thải công chức và giảm chi tiêu y tế. Tăng thuế dẫn đến môi trường đầu tư kém hấp dẫn, FDI vào Hy Lạp liên tục giảm, sức hấp dẫn của nền kinh tế cũng giảm đi. Cuối cùng, khủng hoảng nợ công dẫn đến nền kinh tế Hy Lạp không có động lực, GDP sụt giảm mạnh, đặc biệt trong giai đoạn 2009 – 2014.

Nợ công là một phần tất yếu trong cơ cấu tài chính của hầu hết quốc gia. Dù là các nước nghèo hay những “đầu tàu” như Mỹ, Nhật Bản đều đi vay để đáp ứng nhu cầu chi tiêu chính phủ. Nếu không sử dụng và quản lý nợ công hiệu quả thì khủng hoảng nợ công có thể xảy ra ở bất kỳ quốc gia hay khu vực nào với hậu quả nghiêm trọng không hề dễ khắc phục.

Theo Bộ Tài chính, The Economist, Business Insider, Financial Times.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *